Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘2. Đôi điều suy ngẫm’ Category

6 vấn đề xã hội hôm nay

1– ÁC ĐỘC: Chưa bao giờ con người lại ác độc với nhau như vậy. Họ đánh thuốc độc vào thực phẩm. Họ sẵn sàng giết nhau chỉ vì món lợi nhỏ hoặc thậm chí chẳng gì cái gì khi “mâu thuẫn” chỉ xuất hiện sau cái va quẹt. Người lớn đánh nhau ngoài phố. Trẻ em đánh nhau trong học đường. Con cái thậm chí cũng có thể đối xử nghiệt ngã với cha mẹ. Cái ác bay lơ lửng và có thể rơi xuống bất kỳ đâu. Xã hội đã làm hỏng “bộ phanh” đạo đức để chặn lại tâm lý gây ác trước khi nó bước qua ngưỡng của hành vi tội ác.

2– THÙ HẰN: Tâm tính ác độc đi kèm với thù hằn. Người ta sẵn sàng hằn học nhau chẳng gì cái gì và chẳng gì cái gì thật sự liên quan mình. Tâm lý thù hằn và oán ghét như những hạt mầm gieo thêm cái ác. Sự thù hằn nghiêm trọng nhất là “thù hằn tư tưởng”. Trong một status về tử sĩ Ngụy Văn Thà của tôi, có người còm rằng “Xóm tao cũng chuẩn bị đặt tên Ngụy Văn Thà rồi. Đặt hướng dẫn đường đi vào khu đi ị đó”. Cách nói này cho thấy một sự chất chứa thù hằn và ác độc. Tâm lý thù hằn như vậy đầy dãy. Nó không thể được xóa đi bởi nó vẫn được tích tụ. Đó mới là điều thật sự đáng sợ.

3– THAM LAM: Việc hành khách sân bay bị rọc vali là một trong những hiện tượng cho thấy lòng tham không giới hạn đang bùng lên như ngọn lửa thiêu rụi phần liêm sỉ và tự trọng còn rơi rớt lại trong ý thức cá nhân. Lòng tham hiện diện khắp nơi. Tham lam những cái rất nhỏ nhặt. Người ta sẵn sàng ngắt một cành hoa hay chen nhau giành một suất sushi miễn phí. Lòng tham còn đang được “xuất khẩu”. Hiện tượng ăn cắp tại nước ngoài đang trở thành phổ biến. Lòng tham không thể ngừng lại khi môi trường giáo dục đầy sự đố kỵ tham lam. Lòng tham không thể được chặn khi một số cha mẹ dạy con cách giành thức ăn trong bữa buffet. Không thể cản được lòng tham khi xã hội đầy dãy tham nhũng.

4– HOANG TƯỞNG: Ngày càng có nhiều người hoang tưởng. Hoang tưởng về sự nổi tiếng, về tài năng mình, về trí tuệ mình. Hoang tưởng là một bệnh lý. Tác nhân gây ra nó là thói sùng bái cá nhân. Không đâu thấy dễ hiện tượng này bằng không gian Facebook, nơi người ta có thể đọc những câu còm tâng bốc đại loại: “Đất nước này không thể thiếu anh!”; “Chị là Suu Kyi của Việt Nam”… Người khen không chọn vị trí nhìn để thấy rõ khả năng người mình khen; và người được khen không chọn được vị trí để soi lại bản thân mình. Một xã hội hoang tưởng, chỉ nhìn thấy cái bóng phóng đại, hơn là ảnh thật trong gương, là một xã hội rất không bình thường.

5– KHOE KHOANG: Góc tủ giày, phòng quần áo, xe Rolls-Royce…, chúng ta đang thấy thói quen phô bày xênh xang vật chất lên đến tột cùng. Không chỉ vật chất. Người ta còn “selfie” cái gọi là “lao động trí não”. Sản phẩm lao động trí não là điều luôn dễ thấy. Để xã hội đánh giá có lẽ dễ được “cộng điểm” hơn là tự “báo cáo công trình”. Sự chừng mực và khiêm tốn thường nằm trong tư cách và bản chất người trí thức. Sự kính trọng ít khi có được nhờ “selfie”.

Ghi lại từ facebook của Nguyễn Mạnh Kim   (6.2.2016)
https://www.facebook.com/nguyen.manhkim/posts/10154185289129796

 

………………………..Trong bài trên, tác giả, bằng một văn phong gãy gọn, nêu lên 5 vấn đề xã hội nóng bỏng nhất và “bức xúc” nhất: ác độc, thù hằn, tham lam, hoang tưởng, và khoe khoang. Trải nghiệm của tôi trong thời gian ở Việt Nam làm cho tôi thêm một vấn đề khác nữa: đó là giả dối.

Thói giả dối ở VN lên ngôi và nó hiện diện hầu như trong tất cả giai tầng. Học sinh nói dối. Người lớn nói dối. Giới khoa bảng cũng nói dối. Càng học cao càng nói dối nhiều. Người làm chính trị đạo đức giả và nói dối. Giới kinh doanh gian dối. Học hành giả dối. Khoa học giả dối. Có thể nói không ngoa rằng xã hội VN hiện nay là một xã hội giả dối.

Một trong những lí do của sự giả dối lên ngôi và ngự trị trong xã hội là sự ngự trị của chủ nghĩa Mác Lê Mao trong đời sống chính trị – xã hội. Cái chủ nghĩa này nó trình bày tương đối có hệ thống về bạo lực, đấu tranh giai cấp, cướp chính quyền, nó dạy cách thống trị cộng đồng. Nhưng cái chủ nghĩa đó không hề dạy về đạo lí xã hội, càng chẳng quan tâm đến đạo lí làm người. Trong khi đó, vai trò của tôn giáo bị cái chủ nghĩa đó vô hiệu hoá. Điều quái đản là người đang nói lời giả dối biết mình giả dối, nhưng họ vẫn nói như là một cái nghề. Từ đó, nó làm cho người ta sống hai mặt: một mặt ở cơ quan thì lên mặt giảng về đạo đức, một mặt ở đời thường thì lên án cái thói đạo đức giả. Hệ quả là một xã hội loạn chuẩn đạo đức, trong đó có giả dối. Trớ trêu thay, có người tự tin nói rằng đây là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc! …………………………………

Ghi lại từ facebook của Nguyễn văn Tuấn  (6.2.2016)
https://www.facebook.com/drtuanvnguyen/posts/1544497932529994

Advertisements

Read Full Post »

Ai giải phóng ai?

ai giải phóng ai_1Một anh bộ đội miền Bắc đứng gác bên này dòng sông Bến Hải trước năm 1975

Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy. Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại xem ngày này: Ai giải phóng ai?

Để có câu trả lời khách quan cho câu hỏi này, có lẽ trước hết ta nên đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”, sau đó điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam – Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc dưới mái trường XHCN khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.

Qua một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau: Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đưa một đối tượng từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.

Qua một số bài trên mạng, ta thấy một số tác giả đã bày tỏ quan điểm của họ về đề tài này:

Thư của một cựu “giải phóng quân”

Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã cho biết là anh ta đang tự giác “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa” với lý do như sau:

“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều… hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…

“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)… con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản….”

Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và ca tụng quân dân miền Nam:

“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.

“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy… Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…”

Phần cuối thư anh kết luận:

“….nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.”

Nhà báo Huy Đức, tác giả “Bên Thắng Cuộc”:

Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” cuốn “Bên Thắng Cuộc” HĐ cho biết sau ngày 30-04-1975 qua hình ảnh xe đò Phi Long từ miền Nam chạy ra Bắc đã khiến HĐ nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng:

“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.”

“Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:

Trong phần đầu bài “Cảm Tạ Miền Nam, PH viết:

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.


Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.


Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”

PH cũng đã mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản vô cùng tồi tệ:

“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.


Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”

Trong phần cuối bài thơ, PH kết luận, ngày 30-04-1975 là ngày miền Nam đã giúp cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản:

“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.


Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ

Dù không thành công cũng đã thành danh.”

Trong một bài thơ khác “Tâm sự một đảng viên” PH cho biết sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì quá tin vào lời tuyên truyền của họ:

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin

Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”

“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại

Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”

Khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền của bác và đảng:

“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng

Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin

Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình

Trước thành phố tự do và nhân bản.”

Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, PH cảm thấy hổ thẹn với lương tâm và  đã khóc:

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”

Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:

Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh và sau đó ông được cho vào miền Nam với nhiệm vụ:

“…mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”

Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này:

“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh…”

“Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã…”

ai giải phóng ai_2

Miền Bắc trước 1975

Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam và Bắc, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975, đã buộc ông Dương suy nghĩ:

“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…”

Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết)

Trong bài “Cả Nước Đã Bị Lừa” ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:

“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Phần cuối bài ông Lý viết:

“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Sau cùng ông kết luận:

“Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”

Nhà báo Trần Quang Thành

Trong “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” TQT, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng Nói và Truyền Hình cộng sản Việt Nam:

“Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới  chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»

Nhà văn Dương Thu Hương

Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có trao đổi với  nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975:

PVTA: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?

Bà DTH: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.

Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhân vật trên đây, người ta có thể có được những kết luận sau đây:

–      Nhân dân miền Nam có tự do, dân chủ và no ấm.

–      Nhân dân miền Bắc nghèo khó và phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm ngang hàng với bèo dâu.

–      Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và trở về quốc gia dân tộc.

–      Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người dân miền Bắc biết về thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.

–      Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.

–      Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc và là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.

–      Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.

–      Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.

–      Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.

Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong “thiên đường cộng sản văn minh nhất hành tinh”.

Huy Vũ2015-03-29

Read Full Post »

Những sự thật không thể chối bỏ

Đặng Chí Hùng

VDCV: Theo các dữ kiện tìm thấy trên hệ thống mạng thì  Đặng Chí Hùng là một người trẻ tuổi đang sống tại Hà Nội,  xuất thân từ  gia đình cộng sản nhà nòi và được học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Anh đã viết loạt 15 bài “Những sự thật không thể chối bỏ” được loan tải trên các phương tiện truyền thông trong thời gian qua. Chúng tôi góp tay phổ biến những bài viết này để mọi người có thêm tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về sự thật khách quan của lịch sử . 

………………Trên tinh thần dân chủ chúng ta đang hướng tới, tôn trọng tất cả các ý kiến trái chiều, dân chủ có nhiều con đường, mỗi người chúng ta có quyền đưa ra con đường đó để bạn đọc và nhân dân lựa chọn. Sự lựa chọn của nhân dân là ý kiến cuối cùng về con đường của dân tộc. Với tinh thần đó, tôi mong mọi người đọc hãy tiếp thu bài viết như một ý kiến cá nhân của tôi. Và như đã nói ở những bài trước, con đường dân chủ tôi chọn là con đường không có cộng sản, không còn cộng sản dựa trên nguyên tắc khơi lại sự thật, chấn hưng dân trí.……………… (Đặng Chí Hùng)

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 1)

Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?

Trong chuỗi sự kiện về ông Hồ Chí Minh, xin bắt đầu từ việc đầu tiên đó là việc ông ta đi “tìm đường cứu nước”. Sự việc này sẽ xoay quanh lá thư của ông xin học trường thuộc địa của Pháp. Tôi xin xoay quanh hai vấn đề là: Có hay không là thư đó và ông viết thư với mục đích gì?

Tôi dùng cả những tài liệu, phân tích của hai phái ủng hộ và chống đối để chứng minh rằng: Ông Hồ có viết thư xin học trường thuộc địa. Việc ông xin học ở đây nhằm làm quan, có miếng cơm chứ ông chẳng có tư tưởng căm thù Pháp, không có ý định “tìm đường cứu nước” như chính ông và đảng cộng sản đã bịa đặt.

Tại sao ông Hồ và đảng cộng sản lừa dối không công khai bức thư? Tại sao ông đi kiếm ăn lại nói dối “Tìm đường cứu nước”? Đó chính là sự lừa dối không thể chấp nhận được.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2)

Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958

Có hay không công hàm 1958, công hàm đó có phải là công hàm bán nước hay không và vai trò của ông Hồ Chí Minh trong công hàm bán nước 1958 cho Trung cộng. Từ trước đến giờ chúng ta luôn coi nó là tác phẩm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng sự thực có phải thế không. Vấn đề này không mới nhưng nó được chứng minh theo hướng mới và quan trọng hơn là vai trò của ông Hồ trong sự kiện này. Tôi xin trình bày dưới bài viết này.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 3)

Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin trình bày về việc ông Hồ Chí Minh bán nước với lý do muốn gây chiến với VNCH gây nên cuộc chiến sinh linh đồ thán. Có những ý kiến cho rằng ông Hồ là gián điệp Trung cộng, người Tàu. Trong khuôn khổ bài này tôi xin không đi vào phân tích việc đó vì đó là nghi vấn cần thêm thời gian và tài liệu. Tôi tạm coi ông Hồ là người Việt Nam, đi sang Pháp định làm quan nhưng không được nhận và gặp quốc tế thứ 3 rồi về nước. Và bối cảnh trong bài này tôi cũng xin dừng lại cho đến khi có công hàm 1958 chứ xin phép không bình luận về những năm sau, tránh ý kiến cho rằng lúc đó Trung cộng và Mỹ có can thiệp sâu vào Việt Nam.

(xem toàn bài viết)

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 4)

Bán nước trong thân phận kẻ chư hầu

Ông Hồ Chí Minh có rất nhiều tội cả về cá nhân và tội với dân tộc. Trong đó, ông ta có 2 tội nặng nhất là: Bán nước và Giết người. Đó chính là 2 tội nặng nhất mà trước đến nay ít người dám đề cập và đi sâu, ngay cả trong cuốn DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Trong khuôn khổ những bài viết của mình, tôi xin nêu chủ yếu về 2 tội ác này của ông Hồ.

Như trong phần 2, và 3 tôi đã chứng minh ông Hồ là kẻ bán nước, gây ra chiến tranh phi nghĩa. Nhưng chúng ta còn sẽ được thấy một khía cạnh khác của ông ta: Phận Chư Hầu. Ông Hồ làm chư hầu cho chủ nghĩa cộng sản và đặc biệt làm chư hầu cho kẻ thù của dân tộc: Trung cộng.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 5)

Nỗi đau Cải Cách

Tôi xin được trình bày ở bài viết này sự thật về cái gọi là “Cải cách ruộng đất” man rợ ở Miền Bắc. Nó không mới lạ với đa số bạn đọc. Nhưng lâu nay, người cộng sản hoặc bênh vực cho cộng sản đổ tội cho ông Trường Chinh, Lê Văn Lương… Điều này không sai nhưng chưa đủ. Vai trò và trách nhiệm của ông Hồ Chí Minh trong chiến dịch dẫn đến cái chết của gần 200,000 người dân vô tội cần được vạch rõ.

(xem toàn bài viết)

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 6)

Dù đau đớn nhưng vẫn là sự thật!

Không có gì buồn hơn khi phải khơi lại ký ức buồn. Đó là tâm trạng chung của tất cả chúng ta. Tuy nhiên, lịch sử là sự thật, cần phải tôn trọng nó. Và chúng ta phải chấp nhận cho trái tim rỉ máu khi viết về nó. Tôi muốn những nỗi đau này được khơi lại sự thật nhằm mục đích không còn những nỗi đau tương tự trong tương lai, là nén hương lòng cho những oan hồn trong CCRĐ. Chấp nhận điều này chính là muốn “Đau một lần rồi thôi”. Chúng ta hãy biến nỗi đau này thành sức mạnh để đứng lên lật đổ kẻ thủ ác, như vậy nỗi đau này chỉ có một lần…!

Tiếp theo bài trước (phần 5). Tôi xin trình bày ở bài này những cay đắng mà dân tộc ta đã bị đảng cộng sản bưng bít bấy nhiêu lâu. Sở dĩ tôi gửi Danlambao 2 bài này liền nhau vì tôi muốn bạn đọc có thể theo dõi tường tận tội ác của đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh gây ra cho dân tộc. Rất mong những đóng góp này đến tay những người dân còn tin vào những tuyên truyền bóp méo lịch sử, như là một đóng góp vào con đường dẫn đến xã hội dân chủ thực sự.

(xem toàn bài viết)

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 7)

Trí thức cũng chẳng khá hơn

Nói về Cải cách ruộng đất thì đó là một cuộc thảm sát với phú nông, địa chủ… trong đó có phần lớn là oan sai. Nhưng nhắc đến Nhân văn Giai phẩm lại là câu chuyện khác. Lần này đến trí thức cũng bị tiêu diệt. Lý do rất đơn giản cho sự tiêu diệt đó là họ dám viết, dám nghĩ đúng với những gì họ nhận thấy được từ xã hội thối nát của cộng sản. Họ cần nghệ thuật gắn liền với tư tưởng tự do, dân chủ nhưng… đó là cái gai trong mắt cộng sản.

Bài viết này chỉ nhắc lại cho chúng ta những gì thuộc về sự thật, những sự thật đau đớn của một chế độ muốn ngu dân để cai trị. Một chế độ phi nhân tính với những sự thật đáng hổ thẹn cho muôn đời

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 8)

Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu?

Cụ Phan Bội Châu là một trí sĩ yêu nước nồng nàn của dân tộc ta. Cụ chính là một nhà nho có tư tưởng tiến bộ và uyên bác trong cái nhìn của dân tộc. Đến nay sự việc bị Pháp bắt của cụ vẫn là một ẩn số với nhiều người mặc dù đã có nhiều thông tin được hé lộ cho thấy ông Hồ Chí Minh chính là kẻ đâm sau lưng cụ Phan. Trong khuôn khổ bài này tôi xin được tổng hợp lại các thông tin đã có và các bằng chứng mới để khẳng định: Ông Hồ Chí Minh đã bán đứng cụ Phan cho Pháp lấy tiền và cũng là thủ tiêu một người yêu nước không cùng quan điểm với mình!

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 9)

Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam

Như chúng ta đã biết, hiện nay đảng cộng sản Việt Nam đang thực hiện chính sách “hèn với giặc Trung cộng, ác với nhân dân yêu nước Việt Nam”. Cụ thể là họ im lặng trước các hành động xâm lấn, bắt giữ ngư dân của Trung cộng. Đề ra luật biển làm một lá bùa mị dân, rồi chính họ cho công an đàn áp người biểu tình ôn hòa ủng hộ cái luật “ảo” đó. Ngoài ra là việc mất ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Boxit Tây Nguyên, người Tàu tràn ngập Việt Nam… và gần đây là việc đảng cộng sản có chủ trương dạy tiếng Hoa trong trường học.

Vấn đề ở đây không phải mới, nhưng trước đến nay nhân dân ta quan niệm đó là lỗi của những thế hệ đảng viên sau này như: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh… Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Trong khuôn khổ bài này tôi sẽ gửi tới bạn đọc âm mưu Hán hóa toàn diện bắt đầu từ  ai.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 10)

Triệt tiêu nội lực dân tộc

Qua những phần trước tôi đã chứng minh ông Hồ làm chư hầu, bán nước và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam. Nhưng còn một việc nữa ít được chúng ta trước đây quan tâm đó là âm mưu: Triệt hạ dân tộc của ông Hồ và Trung cộng.

Tại sao lại nói vậy, vì bản thân Trung cộng dùng ông Hồ với hai mục đích. Mục đích thứ nhất của Trung cộng là nhuộm đỏ chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam, lấy được đất đai, biển đảo và đồng hóa nhân dân Việt Nam dưới sự đồng tình từ phía cộng sản Việt Nam mà đại diện là ông Hồ. Nhưng chúng ta thử đặt thêm một câu hỏi ngược lại thì sao: Tại thời điểm trước và và trong chiến tranh nội chiến Việt Nam, Trung cộng không dám chắc là phe của cộng sản sẽ giành thắng lợi thì họ sẽ đạt mục đích gì ở Việt Nam nếu phe cộng sản bị thua? Đó chính là nội dung bài viết này.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 11)

Lừa dối dân tộc!

Chủ nghĩa cộng sản là một thứ chủ nghĩa tai hại đối với dân tộc Việt Nam kể từ khi nó mới được du nhập bởi ông Hồ Chí Minh. Hậu quả đến bây giờ dân tộc ta đang gánh chịu với nhiều tang thương, mất mát. Trước đây đảng cộng sản vẫn tuyên truyền ông Hồ Chí Minh là một người yêu nước, dùng chủ nghĩa cộng sản để giành độc lập cho dân tộc. Nhưng sự thật không phải vậy. Có những bằng chứng xác thực về việc ông Hồ đã lừa đảo cả dân tộc bằng nhiều thủ đoạn núp bóng tinh vi.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 12)

Sự ngụy tạo về “Mùa Thu Độc Lập”

Đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh đã nắm quyền cai trị bằng dấu mốc “cướp chính quyền” và sau đó đã duy trì quyền lực bằng mọi thủ đoạn  mị dân. Cho đến nay, nhờ vào đội ngũ bồi bút mang hàm giáo sư sử học, tiến sỹ nghiên cứu của đảng, họ đã nhào nặn nên một cuộc Cách Mạng Mùa Thu hoàn toàn giả tạo. Chính việc này đã làm cho không biết bao nhiêu thế hệ người Việt bị rơi vào một cái bẫy: “Đảng cộng sản, Hồ Chí Minh dù có sai lầm cũng có công kháng Pháp, giải phóng dân tộc”. Nhưng sự thật có phải như vậy không?

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 13)

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!

Bài viết này tôi xin mượn lời của Cụ Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” để làm tựa đề cho nội dung đề cập. Đó chính là tội ác chiến tranh của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Trong khuôn khổ những bài viết trước đây của tôi, tôi đã trình bày các luận điểm xung quanh việc lừa dối dân tộc để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam, bán biển đảo, đất đai để lấy vũ khí nhằm gây chiến tranh ý thức hệ và âm mưu triệt tiêu nội lực dân tộc của ông Hồ. Để thấy rõ hơn tội ác chiến tranh của đảng cộng sản và đứng đầu là ông Hồ, chúng ta cùng đến với bài này.

Như chúng ta đã biết năm 1946, Pháp thương nghị với Hồ Chí Minh, sau khi ông này tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương và thành lập chính phủ liên hiệp quốc gia với Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Hai bên đã ký hai hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny (tháng 3/1946) và Hiệp Ước Tạm Thời Moutet (tháng 9/1946). Tuy nhiên ba tháng sau, tháng 12/1946, ông Hồ Chí Minh trở mặt phát động chiến tranh võ trang, và đã trắng trợn vi phạm các hiệp ước quốc tế.
Lúc này chính phủ Liên hiệp Việt Nam đã giải tán. Sau khi quân đội Trung cộng rút về nước, Cộng Sản thẳng tay tàn sát các cán bộ Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy chính phủ liên hiệp chỉ là bức bình phong để thương nghị với Pháp. Và sự giải tán Đảng CS Đông Dương cũng chỉ là một chiến thuật ngụy trang và dối trá (đã được chứng minh trong phần 4 và phần 11)
Vì đảng CS ký hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước, nên chính phủ Pháp quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Hơn cả là cả Mỹ và Pháp đều nhận ra cái đuôi cộng sản của ông Hồ (đã chứng minh ở phần 12). Cho nên năm 1947, Tổng thống Xã Hội Vincent Auriol chủ trương thương thuyết với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Hai bên đã ký 3 hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long (tháng 12/1947), Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long (tháng 6/1948) và Hiệp Ước Élysée ký kết giữa Tổng Thống Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại tháng 3, 1949.
Qua tháng sau, tháng 4/1949, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam, độc lập và thống nhất.
Hai tháng sau, tháng 6/1949, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Élysée. Từ đó, chiếu công pháp quốc tế, Việt Nam được hoàn toàn độc lập, các hiệp ước thuộc địa và bảo hộ ký kết với Pháp hồi cuối thế kỷ 19, đã bị Hiệp Định Élysée bãi bỏ.
Mặc dù vậy, đảng CS đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Và bắt đầu từ đây đảng cộng sản bắt đầu đem lại một trang lịch sử u tối mang đậm tính chết chóc cho dân tộc, gây tang thương và kiệt quệ chỉ nhằm nhuộm đỏ và thực hiện âm mưu Hán hóa, triệt tiêu nội lực dân tộc.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 14)

Ai làm cho Huế đau thương?

Trong một dịp đến Huế, tôi đã được gặp và nói chuyện với một anh bạn hơn tôi gần 10 tuổi. Anh ấy là con của một nữ chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam và anh ấy vừa xin ra khỏi đảng. Tôi vô tình gặp anh và anh đề nghị tôi giữ kín danh tính cho anh đến ngày đất nước có tự do, dân chủ thực sự anh ấy sẽ công khai tất cả những sự thật đau thương của Huế năm 1968 mà mẹ của anh chính là một nhân vật trong cái gọi là “phe chiến thắng” ấy.

Mẹ của anh là trung đội phó một trung đội chuyên đi chặt đầu, treo cổ và chôn sống đồng bào tại Huế. Khi bà thức tỉnh thì bà đã bị chết một cách kỳ quái không rõ nguyên nhân và đến nay mặc dù bà mẹ của anh chết trong chiến tranh nhưng vẫn không được công nhận là liệt sỹ. Cũng bởi vì cuốn nhật ký ghi lại tội ác của bà và những nhận xét có phần ăn năn của bà đã khiến nó bị bộ chỉ huy quân sự tỉnh thừa thiên Huế tịch thu mất.

Trong khuôn khổ bài này tôi xin không bình luận về anh ấy và cũng không bình luận về câu chuyện của bà mẹ anh ấy. Nhưng đó là mở đầu thay cho lời tựa của bài viết về một sự thật đau thương cho gần 5000 người dân vô tội tại Huế đã bị bác Hồ và đảng của bác giết hại oan khuất.

Tôi viết bài này để cầu mong cho gần 5000 linh hồn oan khuất ấy được siêu thoát như một tấm lòng chân thành của một người đáng tuổi con cháu đối với những người bị cộng sản tàn ác giết chết. Sự thật là trước tôi có rất nhiều người viết về sự kiện này nhưng đa phần chỉ nói đến vai trò của ông Hồ một cách mơ hồ hoặc không có bằng chứng rõ nét. Bài viết này của tôi sẽ chứng minh cho bạn đọc thấy sự thật về vai trò cầm đầu trong cuộc thảm sát tại Huế năm 1968 của ông Hồ.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15)

Người chồng, người cha tồi tệ

Bài thứ 15 này tôi xin trình bày về một tội ác cá nhân của ông Hồ với những người vợ và con ông ta. Trong phần này tôi xin không trình bày liệt kê ông ta có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con mà tôi xin chứng minh những điều sau đây: Ông Hồ có vợ con chứ không phải không có như ông ta và đảng cộng sản tuyên truyền “Cả đời hi sinh hạnh phúc riêng tư cho dân tộc”; tại sao lúc còn sống ông ta không dám công khai thừa nhận chuyện này; và sự thật về một đảng cộng sản lừa dối nhân dân cả về đời tư của ông ta.
Thật ra, trước tôi đã có nhiều tác giả viết về đề tài vợ con của ông Hồ, hay như DVD Sự thật về Hồ Chí Minh của linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã nói rất rõ. Tuy nhiên tôi viết bài này không nhằm chỉ trích việc ông Hồ có nhiều vợ con, vì với tôi chuyện có nhiều vợ con không phải là tội ác, mà cái chính là ông ta cư xử thế nào với vợ con ông ta và tại sao ông ta lại phải lừa dối dân tộc điều này.

Ghi lại từ:  http://danlambaovn.blogspot.nl/

Read Full Post »

Lê Nguyên Hồng
April 28, 2012

 

Chẳng biết ai đã phát minh ra câu “Ngày quốc hận”. Nhưng có thể chắc chắn câu nói ấy là của người dân Việt Nam Cộng Hòa mất nước sau 1975. Câu nói này nghe qua thì thật là đao to búa lớn và có vẻ như rất nặng nề, nhưng thực ra nó phản ánh rất chân thực nỗi đau của những người dân mất nước. “Quốc” là một nước, dù nhỏ bé như  Đông Ti Mo (East Timor / The Democratic Republic of Timor-Leste) hay Cô Oét (Kuweit)  thì người dân nước đó vẫn có quyền yêu thương và tự hào về tổ quốc của mình.

30-4 là ngày đau thương - ngày quốc hận của nhân dân Việt Nam

Sau năm 1954 Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một quốc gia độc lập song hành với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Sau khi lập quốc, VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 nước và bang giao bán chính thức với 6 nước khác, đặc biệt là với khối ASA (từ năm 1961) – tiền thân của khối ASEAN – Đông Nam Á sau này. Về mặt quan hệ quốc tế, VNCH đã từng có quan hệ rộng hơn hẳn phía VNDCCH. Như vậy nếu ai muốn bỏ chữ “quốc” của VNCH hẳn người đó phải là người có vấn đề về nhận thức.
Như vậy không ai có quyền nghi ngờ về sự mất nước của người dân VNCH nữa. Đành rằng, nếu thống nhất được đất nước Việt Nam theo Hiệp định Genève bằng con đường tổng tuyển cử thì là tốt nhất. Nhưng nếu chưa hoặc vì những lý do nào đó mà không làm được như vậy, thì người ta không có quyền tàn sát lẫn nhau để cướp chính quyền một nước đã được quốc tế công nhận. Lịch sử cho đến tận ngày hôm nay đã cho thấy, có những quốc gia trước đây bị chia đôi vẫn song hành tồn tại như Đông – Tây Đức, Nam – Bắc riều Tiên, Đại lục – Đài Loan – Trung Quốc vv.., mà chẳng cần phải đổ máu đến độ thây chất thành núi máu chảy thành sông như đối với Việt Nam.
Vấn đề thống nhất đất nước và độc lập dân tộc là miếng mồi và ngón đòn chính trị tư tưởng đầy thủ đoạn của những kẻ cuồng vọng chính trị như Hồ Chí Minh, treo trước mặt người dân Miền Bắc – VNDCCH. Và chính vì với tư tưởng tăm tối đó HCM và ĐCSVN đã phát động cuộc chiến xâm lược VNCH một cách tàn bạo, mà lòng chẳng mảy may xúc động khi tàn sát chính đồng bào người Việt của mình. Người ta cố tình biện minh cho tội ác của HCM, nhưng thử hỏi nếu như VNDCCH không hành quân nam tiến thì trong tương lai, liệu VNCH có bao giờ đơn phương đem quân xâm phạm Miền Bắc Việt Nam hay không?
Ngay cả khi cuộc chiến đã nổ ra tàn khốc, những nhà quan sát quốc tế cũng chỉ biết được quốc gia VNCH thời trước được gọi là “chiến trường Miền Nam Việt Nam” chứ chưa ai nghe nói đến “chiến trường Miền Bắc” nào cả. Người ta có thể khẳng định những phi vụ ném bom Miền Bắc của không lực VNCH và Hoa Kỳ là để chặn đường vận chuyển binh lính, lương thực và khí tài đạn dược cung cấp cho chiến trường Miền Nam của VNDCCH, đồng thời những vụ không kích đó cũng là chiến lược làm suy yếu hậu phương của kẻ địch, chứ họ không có biểu hiện của ý đồ xâm lược Bắc Phần.
Như vậy VNCH là người đã bị cướp nước công khai và trắng trợn. Trong chiến tranh rốt cuộc thường là phân định thắng thua. Người ta có thể thắng vì nhiều nguyên nhân, và người ta cũng có thể thua vì nhiều yếu tố. Những chuyện đó hãy để lịch sử và các nhà nghiên cứu mổ xẻ, tìm tòi. Nhưng một khi làm người dân mất nước, không ai lại không hận, không đau. Cho nên người dân của VNCH gọi ngày 30-4 là ngày quốc hận là đúng với bản chất của vấn đề.
Đối với người dân Miền Bắc Việt Nam trong vị trí của người chiến thắng, họ đã sung sướng tột độ và vui mừng tột đỉnh trong ngày 30-4-1975. Nếu ai đã từng sống ở Miền Bắc ngày ấy thì chắc hẳn còn nhớ không khí vui mừng và niềm hân hoan lúc đó. Nhưng thật bẽ bàng thay và nhục nhã thay, ngày 30-4 năm ấy đã bắt đầu một thời kỳ đen tối cho những người dân lành chân chất, ngây ngô về chính trị, đã thản nhiên lao vào cuộc giết chóc kinh hoàng nhất trong lịch sử nước nhà, và tự trói tay bịt miệng làm thân trâu chó cho những kẻ nắm quyền.
Sau ngày 30-4, theo nhà sử học Trần Gia Phụng và theo tài liệu của UNHCR, The State of the World’s Refugees – Fifty Years of Humanitarian Actions, (chương 4, trang 81), đã có khoảng 150 ngàn quân cán chính của VNCH phải bỏ nước ra đi lập tức. Trong đó khoảng 140 ngàn người đã đến Hoa Kỳ, còn lại là đến các nước khác.
Cũng theo số liệu của Cao Ủy về Người tị nạn Liên Hợp Quốc UNHCR thì sau đó đã có 989 ngàn 100 người vượt biên, vượt biển đến được các trại tị nạn (tính đến 1995). Một con số đau đớn khác là đã có khoảng 400 đến 500 ngàn thuyền nhân đã chết vì những tai nạn và nạn cướp biển trên biển Thái Bình Dương. Tổng cộng cho đến ngày nay đã có khoảng trên 1 triệu 500 ngàn người Việt đã phải bỏ nước ra đi bằng nhiều con đường. Và ngay lúc này, nếu được phép ra đi và ra đi thành công, có thể quả quyết rằng: Người dân Việt Nam sẽ đi hết, chỉ còn lại bộ máy cầm quyền mà thôi.
Người dân Miền Nam đã vậy, còn đối với người dân Miền Bắc và cả nước sau này đã chứng kiến thành quả của cuộc chiến tranh tương tàn đem lại cho họ điều gì? Họ đã thua kém Thái Lan tới 95 năm, thua Singgapore tới 158 năm, thua Indonexia 51 năm phát triển (những nước này trước đây đều bị quốc tế đánh giá là nghèo hơn VNCH rất nhiều). Tài liệu tìm hiểu thực trạng Việt Nam hôm nay, bạn đọc có thể tham khảo bài viết “Mười một lý do để thay thế thể chế chính trị một đảng cầm quyền hiện nay ở Việt Nam”.
Như vậy thì người dân Miền Bắc nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, đều căm hận cái ngày 30-4 đen tối năm nào. Có chăng thì đối với người dân Miền Bắc, nỗi hận đến chậm hơn. Vì họ còn phải trải qua thực tế 37 năm qua, mới hiểu rõ thảm cảnh của chính mình. Những người dân Miền Bắc xưa kia “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nhưng ngày nay họ vẫn không biết là cứu được cái gì, và ai đã cướp nước họ nên họ phải đi cứu? Hoa Kỳ cướp nước ư? Không! Nếu vậy thì họ đã cướp nước Nhật, Hàn Quốc, Tây Đức, Đài Loan vv… Nếu như vị bị “cướp” mà giàu có và tự do dân chủ như Nhật, Hàn, Đài thì người dân Việt Nam chắc hẳn đều mong bị cướp như vậy.
Có lẽ hơn cả người dân VNCH, người dân Miền Bắc đau lắm, hận lắm, nhục nhã lắm, khi lúc này họ nhận ra kẻ cướp chính là những người đồng đội, đồng chí của họ, những người cán bộ “công bộc” của dân mà họ từng trân trọng, quý mến, tin yêu. Chúng rất hiền lành nếu dân ngoan ngoãn nghe lời chúng, nhưng chúng sẽ trở nên vô cùng hung ác bạo tàn nếu nhân dân không làm theo ý muốn của chúng. Có nỗi đau nào hơn khi nhìn thấy cái ác không dám nói là nó ác. Nếu nói ra thì ngay lập tức bị quy là phản động, là tuyên truyền chống, là âm mưu lật đổ, là phản quốc, và có thể ngồi tù.
Có nỗi oan ức và ngu ngốc nào hơn khi ta đi cướp chính quyền rồi trao vào tay một tên cướp khác còn ngang ngược và tàn bạo hơn? Có nỗi uất hận nào hơn khi mảnh đất do chính mình đội mưa đội nắng, khai hoang phục hóa, bao mồ hôi đã rơi và cả máu đã chảy trong hàng chục năm như gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng – Hải Phòng, lại bị chính quyền thẳng tay cướp đoạt? Có căm thù nào hơn khi nhà ta đang ở, đất của cha ông ngàn đời để lại nuôi sống ta, gắn bó máu thịt với ta, những kẻ có tiền và có quyền cứ thế ngang nhiên đoạt lấy bằng dùi cui, quả nổ, hơi cay, sau khi chúng quẳng cho ta vài đồng bạc lẻ, để rồi sau này chúng bán lại với mức giá cao hơn thế gấp cả trăm lần, như vụ việc vừa xảy ra tại Hưng Yên?
Và còn bao nỗi oan khiên lòa mây dậy đất khác mà cái chế độ “dân chủ gấp ngàn lần phe Tư Bản” đã mang lại để trả ơn cho những người trực tiếp xả thân nơi chiến trường xưa kia? Còn nhiều, vô cùng nhiều. Có lẽ sau này cần có một Ủy ban điều tra về tội ác của chế độ Cộng Sản để thống kê lại những gì đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam. Không phải là “có lẽ” mà phải là “chắc chắn”. Chắc chắn phải có một phiên tòa như phiên tòa Nurembeg của Đức hoặc phải có một nghị quyết như nghị quyết 1481 ngày 25/01/2006 của Quốc Hội Châu Âu làm cơ sở xét xử các tội ác chống lại loài người của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam.
Ngày 30-4 là ngày ghi dấu tội ác trời không dung đất không tha của chế độ Cộng Sản. Đó chính là tội ác giết người và tội chống lại loài người. Người ta không thể biện minh là vì độc lập vì tự do hay vì thứ gì khác. Những lý do đẹp đẽ mỹ miều mà kẻ này kẻ kia đưa ra, chỉ là trò lường gạt một thời. Nay “bánh Đúc đã bày sàng”, chế độ không che đậy nổi, và họ cũng chẳng cần che đậy nữa. Họ cứ thẳng thừng cướp bóc, thẳng tay đàn áp nhân dân mà không có gì phải sợ. Vì chính quyền và luật pháp, công an và quân đội, nhà tù và tòa án, đều nằm trong tay họ. Chắc họ muốn nói huỵch toẹt ra: “Tao là thế đấy, chúng mày làm gì được tao?”. Đó gọi là gì, nếu không phải là Quốc hận?

Lê Nguyên Hồng

Ghi lại từ: http://lenguyenhong.blogspot.com/2012/04/304-ngay-quoc-han-cua-toan-nhan-dan.html

Read Full Post »

Trần Trung Đạo
April 2012

Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi người nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác…

—–oOo—–

Những ngày còn nhỏ, tôi bị ám ảnh bởi câu hỏi tự mình đặt ra “Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?”

Tôi lớn lên ở Đà Nẵng. Đường phố quê hương tôi trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1972 có rất nhiều lính Mỹ. Những chiến tàu nhập cảng Tiên Sa chở đầy chiến xa và súng đạn mang nhãn “Made in USA”. Những đoàn xe vận tải hiệu Sealand, RMK gần như chạy suốt ngày đêm từ nơi dỡ hàng ngoài bờ biển đến các kho quân sự chung quanh Đà Nẵng. Tiếng gầm thét của các phi cơ chiến đấu có đôi cánh gắn đầy bom, lát nữa, sẽ được ném xuống một nơi nào đó trên mảnh đất Việt Nam. Những câu lạc bộ, được gọi là “hộp đêm”, mọc đầy hai bên bờ sông Hàn. Mỹ đen, Mỹ trắng chở hàng quân tiếp vụ đi bán dọc chợ Cồn, chợ Vườn Hoa.

Phía trước tòa thị chính Đà Nẵng, trước rạp hát Trưng Vương hay trong sân vận động Chi Lăng, gần như tháng nào cũng có trưng bày chiến lợi phẩm tịch thu từ các cuộc hành quân. Những khẩu thượng liên có nòng súng cao, những khẩu pháo nòng dài, rất nhiều AK 47, B40, súng phóng lựu đạn và hàng khối đạn đồng vàng rực. Sau “Mùa hè đỏ lửa” trong số chiến lợi phẩm còn có một chiếc xe tăng T54 được trưng bày rất lâu trước tòa thị chính. Không cần phải giỏi ngoại ngữ, chỉ nhìn nhãn hiệu tôi cũng biết ngay chúng là hàng của Trung Quốc và Liên Xô.

Nhìn viên đạn của Nga và Tàu, tôi nghĩ đến trái tim của người lính trẻ miền Nam, giống như khi nhìn chiếc chiến đấu cơ của Mỹ cất cánh tôi chợt nghĩ đến các anh lính từ miền Bắc xấu số đang di chuyển bên kia sông Thu Bồn. Vũ khí là của các đế quốc. Không có khẩu súng nào chế tạo ở miền Nam hay miền Bắc. Các bà mẹ Việt Nam chỉ chế tạo được những đứa con và đóng góp phần xương máu.

Vũ khí của các đế quốc trông khác nhau nhưng nạn nhân của chúng dù bên này hay bên kia lại rất giống nhau. Nếu tháo đi chiếc nón sắt, chiếc mũ vải xanh, hai người thanh niên có mái tóc đen, vầng trán hẹp, đôi mắt buồn hiu vì nhớ mẹ, nhớ em chẳng khác gì nhau. Dù “con đường Duy Tân cây dài bóng mát” hay “mặt hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” cũng là quê hương Việt Nam và nỗi nhớ trong tâm hồn người con trai Việt ở đâu cũng đậm đà tha thiết.

Người lính miền Nam chết vì phải bảo vệ chiếc cầu, căn nhà, xóm làng, góc phố thân yêu của họ. Nếu ai làm một thống kê để hỏi những lính miền Nam còn sống hôm nay, tôi tin không ai trả lời muốn “ăn gan uống máu quân thù” miền Bắc. Họ chỉ muốn sống yên ổn trong hòa bình để xây đắp lại mảnh đất họ đã “xin chọn nơi này làm quê hương” sau khi trải qua quá nhiều đau thương tang tóc. Họ phải chiến đấu và hy sinh trong một cuộc chiến tự vệ mà họ không chọn lựa.

Dân chủ không phải là lô độc đắc rơi vào trong túi của người dân miền Nam mà phải trải bằng một giá rất đắc. Tham nhũng, lạm quyền, ám sát, đảo chánh diễn ra trong nhiều năm sau 1960. Có một dạo, tấm hình của vị “nguyên thủ quốc gia” chưa đem ra khỏi nhà in đất nước đã có một “nguyên thủ quốc gia” khác. Nhưng đó là chuyện của chính quyền và nhân dân miền Nam không dính líu gì đến đảng Cộng Sản miền Bắc.

Dân chủ ở miền Nam không phải là sản phẩm của Mỹ được đóng thùng từ Washington DC gởi qua nhưng là hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng nửa thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Không chỉ miền Nam Việt Nam mà ở đâu cũng vậy. Nam Hàn, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Phi Luật Tân và nhiều quốc gia khác, dân chủ đã phải trải qua con đường máu nhuộm trước khi đơm bông kết trái.

Khác với người lính miền Nam, người lính miền Bắc chết vì viên thuốc độc bọc đường “thống nhất đất nước”. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm bị giết ở Quảng Ngãi đã uống viên thuốc đó. Anh Nguyễn Văn Thạc, tác giả của hồi ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” bị giết ở Quảng Trị đã uống viên thuốc đó. Cô bé Trần Thị Hường 17 tuổi và chín cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc bị bom Mỹ rơi trúng ngay hầm đã uống viên thuốc đó. Họ không biết đó là thuốc độc. Không biết thì không đáng trách. Nhà văn Dương Thu Hương trải qua một thời thanh niên xung phong nhưng chị may mắn còn sống để nhắc cho các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay biết “chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.”

Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?

Thật không công bằng cho đảng nếu tôi chỉ dùng tài liệu trong các thư viện ở Mỹ để chứng minh âm mưu xích hóa Việt Nam của đảng. Tôi sẽ trích những câu do đảng viết ra. Theo quan điểm lịch sử của đảng CSVN chiến tranh đã xảy ra bởi vì “Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.”

Không ai hình dung “thuộc địa kiểu mới” hình dáng ra sao và đảng cũng chưa bao giờ giải thích một cách rõ ràng.

Sau Thế chiến thứ hai, hàng loạt quốc gia trong đó có những nước vốn từng là đế quốc, đã nằm trong vòng ảnh hưởng kinh tế và cả chính trị của Mỹ. Chẳng lẽ 18 nước châu Âu bao gồm Tây Đức, Áo, Bỉ, Pháp, Ý, Anh, Hòa Lan v.v… trong kế hoạch Marshall chia nhau hàng trăm tỉ đô la của Mỹ để tái thiết đất nước sau thế chiến thứ hai đều trở thành những “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao? Chẳng lẽ các nước Á châu như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan được viện trợ không những tiền của mà còn bằng cả sức người để xây dựng lại đất nước họ là “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao?

Chuyện trở thành một “căn cứ quân sự” của Mỹ lại càng khó hơn.

Chính sách vô cùng khôn khéo của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ dùng Đệ Lục Hạm Đội Mỹ làm hàng rào bảo vệ đất nước Thổ ngăn chặn làn sóng đỏ Liên Xô xâm lược là một bài học cho các lãnh đạo quốc gia biết mở mắt nhìn xa. Mặc dù là một nước trung lập trong thế chiến thứ hai, để lấy lòng Mỹ, lãnh đạo Thổ đã tình nguyện gởi 5500 quân tham chiến bên cạnh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên. Quân đội Thổ chiến đấu anh dũng nhưng cũng chịu đựng tổn thất rất nặng nề. Một nửa lực lượng Thổ đã chết và bị thương trong ba năm chiến tranh. Ngày 18 tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành hội viên của NATO và hùng mạnh đến ngày nay.

Nhật Bản là một ví dụ khác. Trong cuốn phim tài liệu Thế Giới Thiếu Mỹ (The World Without US) đạo diễn Mitch Anderson trích lời phát biểu của Thủ tướng Nhật Yasuhiro Nakasone “Nếu Mỹ rút khỏi Nhật Bản, chúng tôi phải dành suốt mười năm tới chỉ để lo tái võ trang trong nhiều mặt, kể cả sản xuất võ khí nguyên tử”. Một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới với Tổng Sản Lượng Nội Địa năm 2011 lên đến 5855 tỉ đô la nhưng dành vỏn vẹn một phần trăm cho ngân sách quốc phòng chỉ vì Nhật dựa vào khả năng quốc phòng của Mỹ và sự có mặt của 35 ngàn quân Mỹ. Khác với chủ trương “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” của Hồ Chí Minh, trong một thống kê mới đây, 73 phần trăm công dân Nhật biết ơn quân đội Mỹ bảo vệ họ.

Đứng trước một miền Bắc điêu tàn sau mấy trăm năm nội chiến và thực dân áp bức, một giới lãnh đạo nếu thật tâm thương yêu dân tộc trước hết phải nghĩ đến việc vá lại những tang thương đổ vỡ, đưa đất nước ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu. Ngay cả thống nhất là một ước mơ chung và có thật đi nữa cũng cần thời gian và điều kiện. Con người trước hết phải sống, phải có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành trước khi nghĩ đến chuyện đoàn tụ với đồng bào và bà con thân thuộc.

Ngoại trừ các lãnh đạo Cộng Sản, trên thế giới chưa có một giới lãnh đạo thể hiện lòng yêu nước bằng cách giết đi một phần mười dân số, đốt cháy đi một nửa giang sơn của tổ tiên để lại, dâng hiến hải đảo chiến lược cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mà gọi đó là “thống nhất đất nước” và “hòa hợp dân tộc”.

Cũng trong tài liệu chính thức của đảng, ngay cả trước khi ký hiệp định Geneve và khi Việt Nam chưa có một dấu chân người lính Mỹ nào, hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”.

Vào thời điểm trước 1954, dân tộc Việt Nam thật sự có một mối thù không đội trời chung với Mỹ sâu đến thế sao hay giới lãnh đạo CSVN chỉ vẽ hình ảnh một “đế quốc Mỹ thâm độc đầu sỏ” như một lý do để chiếm toàn bộ Việt Nam bằng võ lực, và cùng lúc để phụ họa theo quan điểm chống Mỹ điên cuồng của chủ nô Mao Trạch Đông sau cuộc chiến Triều Tiên?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau gần một thế kỷ với bao nhiều tổn thất máu xương, tù ngục, mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam của đảng cuối cùng đã đạt được. Lê Duẩn, trong diễn văn mừng chiến thắng vài hôm sau đó đã nói “vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Lời phát biểu của họ Lê nhất quán với nghị quyết của đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm, ghi rõ: “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

Mới đây, Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Cu Ba, cũng lần nữa khẳng định “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam…. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Phú Trọng nói những câu lạc hậu, lỗi thời mà không biết mắc cỡ. Tôi tin y nói một cách chân thành và hãnh diện. Nhờ tài lãnh đạo mà đảng CSVN đã tồn tại dù cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh như Liên Xô đã phải sụp đổ.

Đối diện với thời đại toàn cầu hóa, nội chung chủ nghĩa Mác về mặt kinh tế đã phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu tồn tại của đảng nhưng cơ chế nhà nước toàn trị sắc máu theo kiểu Lê Nin, Stalin chẳng những được duy trì mà còn củng cố chặt chẽ và nâng cấp kỹ thuật cao hơn. Dù ngoài miệng có hát bài hòa hợp hòa giải thắm đượm tình dân tộc, bên trong, các chính sách của Đảng vẫn luôn kiên trì với mục tiêu toàn trị và bất cứ ai đi ngược với mục tiêu đó đều bị triệt tiêu một cách tàn nhẫn.

Dưới chế độ Cộng Sản, không những người dân bị ràng buộc vào bộ máy mà cả các lãnh đạo cũng sinh hoạt trong khuôn khổ tổ chức và nghiêm chỉnh thực thi các nguyên tắc lãnh đạo độc tài sắc máu do đảng của họ đề ra. Điều đó giải thích lý do giọng điệu của những cựu lãnh đạo Cộng Sản như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Khoa Điềm sau khi rời chức vụ giống như những người vừa được giải phẫu thanh quản, nói dễ nghe hơn nhiều so với thời còn trong bộ máy cầm quyền. Họ không phải là những người “buông dao thành Phật” nhưng chỉ vì họ đã trở về với vị trí một con người bình thường, ít bị ràng buộc trong cách ăn cách nói, cách hành xử, cách khen thưởng và trừng phạt như khi còn tại chức.

Giới lãnh đạo Cộng Sản được trui rèn trong tranh đấu, được huấn luyện chính trị từ cấp đội, cấp đoàn trước khi giữ các vị trí then chốt trong đảng và nhà nước CS. Họ nắm vững tâm lý và vận dụng một cách khéo léo tâm lý quần chúng để phục vụ cho các chính sách của đảng trong từng thời kỳ. Sau biến cố Thiên An Môn, để đánh lạc hướng cuộc đấu tranh đòi dân chủ của thanh niên sinh viên, nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc khai thác lòng căm thù chính sách quân phiệt của Nhật đã xảy ra từ thế kỷ trước. Lợi dụng việc Bộ Giáo dục Nhật bản liệt kê biến cố tàn sát Nam Kinh như một tai nạn trong sách giáo khoa, nhà cầm quyền Trung Quốc đã khuyến khích hàng chục ngàn thanh niên sinh viên Trung Quốc biểu tình suốt 3 tuần lễ trước tòa đại sứ Nhật. Việt Nam cũng thế. Trong chiến tranh biên giới 1979, các lãnh đạo CSVN đã lần nữa sử dụng thành công viên thuốc độc bọc đường “bảo vệ tổ quốc”. Máu của hàng vạn thanh niên Việt Nam đổ xuống dọc biên giới Việt Trung phát xuất từ tình yêu quê hương trong sáng và đáng được tôn vinh, tuy nhiên, nếu dừng lại một phút để hỏi, họ thật sự chết vì tổ quốc hay chỉ để trả nợ xương máu giùm cho đảng CSVN?

Với tất cả thông tin được phơi bày, tài liệu được giải mật cho thấy, cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mà giới lãnh đạo CSVN đưa ra thực chất chỉ là cái cớ. Không có một người lính Mỹ nào đến Việt Nam, đảng vẫn cộng sản hóa miền Nam cho bằng được. Bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng thừa khả năng để nghĩ ra hàng trăm lý do khác để đánh miền Nam.

Đảng CSVN là nguyên nhân khiến cho nhiều triệu người Việt vô tội ở hai miền đã phải chết một cách oan uổng, bao nhiêu thế hệ bị suy vong, bao nhiêu tài nguyên bị tàn phá và quan trọng nhất, chiếc còng Trung Quốc mà đảng thông đồng để đeo trên cổ dân tộc Việt Nam mỗi ngày ăn sâu vào da thịt nhưng không biết làm sao tháo gỡ xuống đây.

Nói theo cách viết của nhạc sĩ Việt Khang “Việt Nam ơi thời gian quá nửa đời, và ta đã tỏ tường rồi”, chiến tranh xảy ra tại Việt Nam mà không ở đâu khác chỉ vì Việt Nam có đảng Cộng Sản.

Ngoại trừ các em, các cháu bị nhào nặn trong nền giáo dục ngu dân một chiều chưa có dịp tiếp xúc với các nguồn thông tin khách quan khoa học, nếu hôm nay, những người có học, biết nhận thức mà còn nghĩ rằng cuộc chiến kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, những kẻ đó hoặc bị tẩy não hoàn toàn hoặc biết mình sai nhưng tự dối lòng để tiếp tục sống cho hết một kiếp người.

Cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ đất nước hiện nay, do đó, còn rất khó khăn, đôi gánh non sông còn rất nặng và hành trình tự do còn khá xa xôi.

Sau 37 năm, “hàng triệu người buồn” như  ông Võ Văn Kiệt nói, nếu chưa qua đời, hôm nay vẫn còn buồn.

Nhưng người buồn không phải chỉ từ phía những người lính Việt Nam Cộng Hòa bị buộc buông súng, từ phía nhân dân miền Nam bị mất tự do mà còn là những người miền Bắc, cả những người trong đảng CS đã biết ra sự thật, biết mình bị lừa gạt, biết mình đã dâng hiến cả một cuộc đời trai trẻ cho một chủ nghĩa độc tài, ngoại lai, vong bản.

Gần mười năm trước tôi kết luận bài viết về ngày 30 tháng 4 bằng ba phân đoạn dưới đây và năm nay, tôi kết luận một lần nữa cũng bằng những dòng chữ đó để chứng minh một điều, tuổi trẻ của tôi có thể qua đi nhưng niềm tin vào tuổi trẻ trong tôi vẫn còn nguyên vẹn.

Như lịch sử đã chứng minh, chính nghĩa bao giờ cũng thắng. Không có vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng vượt lên những hệ lụy quá khứ để hướng vào tương lai tươi sáng cho đời đời con cháu mai sau và chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng phục hồi sự kính trọng Việt Nam trong lân quốc cũng như trong bang giao quốc tế.

Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.

Ba mươi bảy năm là một quảng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trễ hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vở, còn biết nhận ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Ghi lại từ: http://www.trantrungdao.com/?p=1704

Read Full Post »

Châu Hiển Lý
April 21, 2012

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời!

Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.
Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.
Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra:
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?
Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa. Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.
Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại.
Hiện tượng ”Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương. Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lý tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.
Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.
Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…
Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.
Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.
Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.
Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng  Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận:
“Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa!
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao?
Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?
Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai!
Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý – Bộ đội tập kết 1954

ghi lại từ:  http://www.vietthuc.org/2012/04/21/c%E1%BA%A3-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-da-b%E1%BB%8B-l%E1%BB%ABa/

Read Full Post »

Song Chi.

 

Có lần tôi đã viết một bài đại ý cuộc sống của người Việt dưới “thiên đường xã hội chủ nghĩa VN” có quá nhiều nỗi lo nỗi sợ, kể từ khi mới sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Quá nhiều nỗi lo: Khi còn nhỏ thì phải lo học ngày học đêm, học không có thời gian nghỉ ngơi giải trí bồi bổ thêm cho đời sống tinh thần, không có mùa hè không có tuổi thơ, dưới sức ép của gia đình, nhà trường, điểm số, những kỳ thi (nhìn sang các nước Mỹ, châu Âu, chả có nước nào mà trẻ con phải đi học thêm từ khi mới vào cấp một, và suốt thời trung học như ở nước mình). Nỗi lo lớn nhất là thi rớt đại học. Vì ở VN, rớt đại học là rất bi kịch, thời buổi bằng cấp rẻ như bèo, cử nhân thạc sĩ còn thất nghiệp, huống hồ chỉ có một mảnh bằng trung học phổ thông.

Lớn hơn một chút thì lo kiếm việc, lo cày bừa như trâu để kiếm tiền, vừa nuôi thân mình, nuôi gia đình vừa lo cho tương lai học hành của con cái, còn phải để dành phòng khi ốm đau bệnh tật, khi thất nghiệp lúc tuổi già…VN không có chế độ an sinh xã hội, còn bảo hiểm y tế hay lương hưu đều rất tượng trưng chẳng ăn thua gì, nên người dân phải tự lo cho mình, có bất cứ chuyện gì xảy ra nếu không có tiền thì đành bó tay chờ chết. Một đời người toàn là nỗi lo.

Và nỗi sợ: Đi học sợ bị điểm kém, bị thầy cô trù dập, bị ba mẹ mắng nếu kết quả không cao. Đi làm thì sợ xếp. Ăn uống thì sợ chất lượng thực phẩm không an toàn, mất vệ sinh, có ngày lại bị trúng độc, mà nếu không trúng độc chết ngay thì cứ mỗi ngày độc tố ngấm dần vào người, dần dà cũng bị ung thư các kiểu. Ra đường thì sợ tai nạn giao thông (mỗi năm có đến 12-13 ngàn người Việt chết vì tai nạn giao thông chưa kể bị thương tật, tàn phế, còn hơn cả thời chiến), sợ cây gãy trúng đầu, sụp hố tử thần, dây điện không an toàn gây điện giật khi trời mưa…Có muôn ngàn tai họa trời ơi đất hỡi khác nhau xảy ra do cung cách làm ăn gian dối, vô trách nhiệm của con người.

Rồi nỗi sợ công an, sợ chính quyền, đến nỗi từ lâu người dân nhìn chung không dám quan tâm bàn luận đến những chuyện chính trị xã hội vì nếu bị khép tội phản động, tuyên truyền nói xấu chế độ lại ngồi bóc lịch dài cổ v.v…

Không chỉ nhiều nỗi lo nỗi sợ, người Việt còn khổ tâm vì phải chạy theo những giá trị ảo, giá trị dỏm. Chẳng hạn, bằng cấp là một giá trị. Nhưng ở VN nhiều khi nó là giá trị ảo/dỏm. Thứ nhất, bởi chất lượng giáo dục không tương xứng với bằng cấp, thứ hai, ngày càng có người bỏ tiền ra chạy bằng, mua bằng…nên giá trị của bằng cấp càng rẻ. Chả ở đâu mà giáo sư tiến sĩ nhiều cả rổ như ở VN.

Trong một xã hội mà mọi cái ghế,chức vụ thơm tho đều là do chạy, mua, dàn xếp, hoặc do con ông cháu cha mà có, người thực học, có thực tài sẽ rất khó với được những chỗ như vậy. Còn những kẻ thiếu tài thiếu đức nhưng ngồi trên đầu thiên hạ lại nhan nhản. Cuối cùng bằng cấp, chức vụ không tương xứng với người đang có được cái bằng, cái chức vụ đó, bằng cấp chỉ là vật trang trí, nhưng mà phải có cho oai, không có thì “không cơ cấu” được vào chỗ này chỗ kia. Cứ nhìn vào các quan to quan nhỏ từ cấp huyện, xã, thành phố cho đến trung ương, Bộ chính trị…người nào cũng phải cố sắm vài cái bằng để lòe thiên hạ thì hiểu.

Người ta chạy theo bằng cấp, chạy theo đồng tiền. Giá trị con người không được xét theo năng lực, phẩm chất, tư cách thật sự của người đó mà được cân đong đo đếm bởi cái hình thức vật chất bên ngoài, từ những thứ người đó mang, mặc trên người hoặc sử dụng cho đến cái nhà to, xe hơi “khủng” v.v…

Không chỉ người lớn mà trẻ con, thanh thiếu niên cũng bị tác động bởi cuộc sống chỉ chạy theo/tôn sùng những giá trị ảo này. Ở lứa tuổi đang học phổ thông cho đến đại học, các em phải đua theo hai cuộc đua diễn ra suốt năm này sang năm khác.

Với những em siêng năng, coi trọng việc học thì đó là cuộc đua về học hành-điểm số, những cuộc thi, làm sao vào được trường chuyên lớp chuyên, trường công loại A hoặc trường quốc tế. Ngoài giờ học lại phải đi học thêm văn hóa, nếu gia đình có tiền thì còn phải học thêm ngoại ngữ tiếng Anh tiếng Pháp, học đàn piano, violon, múa ballet, khiêu vũ, thể thao, bơi lội…Nghĩa là phải trở thành một người hoàn hảo! Bởi không thiếu những bậc phụ huynh nghĩ rằng họ có tiền và mong muốn con được trang bị đủ kiến thức mà chính họ ngày xưa không có điều kiện. Rồi các bậc phụ huynh còn phải đua nhau cho con đi du học nước ngoài. Trước kia phần lớn các em đi du học sau khi học xong bậc phổ thông, bây giờ ngày càng có nhiều gia đình cho con đi học từ khi đang học lớp 9, lớp 10, thậm chí sớm hơn nữa.

Với những em gia đình khá giả, sẵn tiền, thích ăn diện thì lại là cuộc đua về mức độ chưng diện, tiêu xài, thể hiện đẳng cấp con nhà giàu. Giới trẻ VN ở các thành phố lớn bị tác động nhiểu hơn ở nông thôn và tỉnh lẻ, ở thành phố lớn những gia đình thuộc thành phần khá giả đông hơn, khoảng cách giàu nghèo rõ rệt hơn, và đời sống chung quanh cũng bị bủa vây bởi các mặt hàng tiêu dùng, hàng xa xỉ nhiều hơn. Ngay từ khi còn ngồi ở bậc trung học, bọn trẻ con nhà có tiền đã so kè nhau từ cái iPhone, iPad, điện thoại đời mới, những bộ cánh chưng diện đi chơi, những buổi ăn chơi cuối tuần…Đua nhau xài tiển của bố mẹ cho bạn bè lác mắt.

Trẻ con học điều đó từ chính cha mẹ, người lớn, từ cách sống cách nghĩ, các tiêu chuẩn vô hình chung được định ra trong xã hội VN hôm nay. Những năm sau này giới việt kiều về nước hoặc người dân ở các nước đã phát triển cũng phải choáng trước cách xài tiền rất hoang của một bộ phận người giàu ở VN-một đất nước vẫn thuộc hàng nghèo, lạc hậu trên thế giới. Hàng hiệu, mỹ phẩm đắt tiển, rượu ngoại…cho đến những dòng xe hơi đời mới nhất, đắt tiền nhất cũng đã có ở VN. Nhiều đại gia, người nổi tiếng ở VN sở hữu hàng chục bất động sản đất đai, với những ngôi nhà sang trọng chẳng thua gì tỷ phú ở nước ngoài.

Đặc biệt là giới showbiz-ở bất cứ nước nào vốn dĩ cũng là một tầng lớp quen sống trong một môi trường hào nhoáng, lấp lánh danh, sắc, nhưng trong một xã hội chuộng những giá trị ảo, hình thức bên ngoài như Việt Nam, những “căn bệnh” đó sẽ càng đậm đặc hơn với giới showbiz. Nếu theo dõi những hoạt động của giới showbiz Việt thì sẽ thấy, những cuộc tranh đua lành mạnh vể tài năng thật sự thì ít mà đua vì những cái danh ảo bên ngoài thì nhiều. Cộng thêm sự vô tình hay hữu ý góp sức của những tờ báo mạng có khuynh hướng giật gân, câu khách, thường xuyên đăng tải những thông tin kiểu như cùng ngắm nhà đẹp của nghệ sĩ A, nghệ sĩ B tậu xe khủng, ca sĩ C cặp kè với đại gia, ca sĩ D diện váy, túi hàng hiệu, nữ diễn viên E “lộ hàng”, nam diễn viên G bị tố là người thứ ba v.v…

Chính vì vậy, nhiều ca sĩ diễn viên mới nổi hoặc không có thực tài bao nhiêu đã chọn con đường gây scandal để nổi tiếng, hoặc đi đường tắt các kiểu để có thể có được một chút tên, hoặc cặp kè với đại gia để thoải mái chưng diện. Chính xã hội chung quanh đang cổ vũ cho cách sống đó. Báo chí lá cải đang cổ vũ cho cách sống đó. Ngược lại, người có tài thật, mà sống lương thiện, trung thực, khiêm tốn quá thì sẽ thiệt thòi.

Như vậy, một đời người Việt đã phải đối mặt với nhiều nỗi lo, nỗi sợ- trong đó phần lớn là những nỗi lo, sợ phi lý do cái cái thể chế chính trị hiện tại gây ra cho người dân, lại phải vất vả chạy đua theo những giá trị ảo, là quá mệt mỏi.

Ngay cả những người giàu có ngồi trên hàng đống tiền cũng có những nỗi lo, sợ. Làm ăn trong một môi trường kinh tế không ổn định, luật pháp không rõ ràng minh bạch lại hay thay đổi xoành xoạch và lắm kẻ xài luật rừng như ở VN, có gì đảm bảo không bị thua lỗ, bị lừa đảo, phá sản như chơi. Cả quan to chức lớn cũng không thật sự yên tâm. Luôn phải quỵ lụy cấp trên, kéo bề kết cánh để giữ ghế, trăm mưu nghìn kế để đối phó với bao nhiêu kẻ dòm ngó cái ghế của mình, chưa kể phải đối mặt với sự oán ghét của người dân. Nói tóm lại người giàu, người có chức, người có tiếng ở VN cũng chưa chắc trong tâm đã thực sự bình an.

Trong khi đó, ở những quốc gia đã phát triển đồng thời là những nước tự do dân chủ, văn minh, người dân không phải đối phó với quá nhiều nỗi lo sợ vô lý, lại không phải bon chen tranh giành những giá trị ảo-mà chỉ phải cố gắng để có được những giá trị thật, do chính năng lực, phẩm chất con người mình tạo dựng nên. Một cuộc sống như vậy, ắt hẳn phải nhẹ nhõm hơn, bình an hơn.

ghi lại từ http://www.rfavietnam.com/node/1077

Read Full Post »

Older Posts »